SẮC MÀU NHÂN VẬT QUA NÉT VẼ TINH TÚY CỦA MẶT NẠ TUỒNG

Thứ tư - 31/12/2025 15:37
"Nhìn chú kia mặt đỏ lòm sợ quá tụi bay", "Cô này mặt đẹp chắc đóng vai công chúa nè", "Cái mặt anh này tức cười quá"... Thoáng nghe qua lời nói thì chúng ta có thể liên tưởng đến khung cảnh trước một buổi diễn nghệ thuật nào đó mà khán giả chủ yếu là quần chúng nhân dân, từ người già đến trẻ nhỏ, ai cũng có thể nói, nhận xét về nhân vật của vở diễn sắp được mở màn trong một bầu không khí vui vẻ, hứng thú. Vâng, những câu “cửa miệng” vui như thế của mọi người đề cập đến một công việc đầu tiên và rất quan trọng của người nghệ sĩ Tuồng trong đêm diễn, đó là hoá trang vẽ mặt nhân vật thủ vai.
Nghệ thuật sân khấu Tuồng của dân tộc ta cùng với Kinh kịch của Trung Quốc, Kabuki của Nhật Bản đều thuộc dòng kịch hát phương Đông. Tuy mỗi quốc gia đều có bản sắc riêng nhưng bên cạnh đó cũng có những điểm tương đồng và một trong số đó là sử dụng màu sắc vẽ lên mặt cho giống với nhân vật trong vở diễn nhằm tạo nên một hình tượng sân khấu đạt giá trị thẩm mỹ cao. Ngày xưa các nghệ sĩ đeo mặt nạ đã được vẽ sẵn để diễn chứ không vẽ trực tiếp lên mặt như hiện nay. Nhà nghiên cứu kịch hát nhiều quốc gia trên thế giới Arlington cho rằng thế kỷ thứ ba trước công nguyên, người ta ưa diễn trò tạp hí, có luyện điền kinh và leo dây, diễn viên đeo mặt nạ múa hát, khi múa hát có mặt nạ thấy bất tiện nên họ vẽ mặt này, mặt nọ. Ở Trung Quốc đến thế kỷ XIII, đời nhà Nguyên các vai phụ giặm mặt với một hay hai màu. Về sau triều Minh, họ mới dùng nhiều màu vẽ lên mặt để biểu hiện tánh tình của vai diễn. Còn ở Việt Nam, vào đời vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127),  khi Lý Thường Kiệt đem quân sang đánh nhà Tống ở Châu Khâm, Châu Liêm, Châu Ung trên đường rút quân có bắt nhiều người đem về nước, trong số những người ấy có mấy đạo sĩ lần đầu tiên cho ta biết cách vẽ mặt, bôi hề và làm các điệu bộ (Theo Đại Việt Sử ký toàn thư). Trải qua thăng trầm của thời gian, hoà trong bản sắc văn hoá dân tộc Việt mà cách giặm mặt (hoá trang) Tuồng của chúng ta có nét độc đáo, sáng tạo riêng, mỗi cách dặm mặt đều có ý nghĩa nhất định tạo nên cái hồn, cái chất của loại hình kịch hát truyền thống này. Người diễn viên được xem như là một họa sĩ, với cây cọ và bột màu trộn dầu họ đã vẽ, khắc họa những đường nét tinh tuý làm nên những kiệt tác hội họa khiến nhiều người khâm phục. Có ba tông màu chính được sử dụng trong hoá trang Tuồng đó là đen, đỏ, trắng và thêm một số màu phụ trợ như xanh, xám, hồng, lục, vàng... Mỗi tông màu tượng trưng cho mỗi dạng nhân vật khác nhau như: vẽ mặt màu đỏ thể hiện cho người anh hùng, võ tướng, trung thần tỏ rõ sự trung can nghĩa khí; mặt màu đen chỉ người chất phác, bộc trực, nóng nảy nhưng ngay thẳng, trung trực đại diện cho sự rắn chắc; mặt trắng sử dụng cho dạng nhân vật có diện mạo đẹp đẽ, tính cách trầm tĩnh; mặt mốc dành cho vai phản diện, gian thần phản trắc, xu nịnh; mặt rằn chỉ kẻ tướng mạo xấu xí, tính tình nóng nảy; mặt xanh chỉ người mưu mô xảo quyệt hay yêu ma... Chúng ta cùng tìm hiểu cách thể hiện tinh tuý bằng hoá trang của các nghệ sĩ qua các nhân vật trong tuồng cổ.
Nhân vật Quan Công tức Quan Vũ hay Quan Vân Trường ( tuồng Cổ Thành) thuộc dạng kép võ trong tuồng, ông kết nghĩa đệ huynh cùng Lưu Bị và Trương Phi, có tiếng trung can nghĩa khí, vai này khi ra tuồng vẽ mặt đỏ bầm bóng láng như linh thần, mắt vẽ xếch ngược hùng dũng, lông mày tằm đen dài lưỡi mác, có những chấm trắng biểu hiện trường thọ, vòm miệng cương nghị, râu đen dài ai nhìn vào đều nể sợ tôn kính.

                            
    NSND Xuân Hợi trong vai Quan Công
 
Hay vai Đổng Kim Lân (Tuồng Sơn Hậu) cũng thuộc dạng kép văn võ toàn tài là một trung thần, đại diện cho sự cương trực, trí dũng vẽ mặt màu đỏ au, nhưng các đường nét lông mày, mắt, khoé miệng có chiều ngang (mặc dù nét đặc thù của mặt tuồng dạng này là đôi mày xếch).

                                                 
Nhân vật Kim Lân
 
Triệu Khuông Dẫn tức Tống Thái Tổ dạng kép vua, mặt đỏ sẫm hay hồng đậm, chân mày trắng hay nâu, quanh vòng mắt vẽ đen, bên mày phía trái vẽ hình rồng bên mày phía phải vẽ hình mặt trời biểu hiện phẩm giá của một vị vua có công lập quốc.

                            
NSND Minh Ngọc trong vai Triệu Khuông Dẫn

Chúng ta thấy rằng các nhân vật đều vẽ mặt màu đỏ nhưng màu sắc không giống nhau hoàn toàn, mà nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nguồn gốc xuất thân từ đâu? Tính cách như thế nào? Vai trò trong xã hội đương thời lớn đến đâu? Ngoài ra một số nhân vật là trung thần nhưng không vẽ mặt đỏ như Bao Công (Bao Thanh Thiên) là một vị quan đời nhà Tống bên Trung Quốc, tính tình cương trực, xử án phân minh "thiết diện vô tư", người diễn viên thủ vai vẽ mặt màu đen, lông mày kẻ màu trắng, chi tiết quan trọng là trên trán vẽ hình trăng lưỡi liềm biểu hiện con người này có thể nói chuyện thần giao cách cảm với những nhân vật huyền bí, ngoài cõi dương gian, hai bên màng tang vẽ nhiều đường trắng, râu dài đen.


Nhân vật Bao Công
 
Hay vai Trương Phi - anh hùng thời Tam Quốc là nhân vật trung, tính tình lỗ mãng, luôn trừ gian diệt bạo nhưng không nghĩ đến hậu quả việc làm thiếu suy nghĩ của mình, kép đóng vai vẽ mặt đen thui có pha tròng trắng (còn gọi là tròng trứng nghĩa là vẽ như quả trứng màu trắng vòng quanh mắt), mày lửa (có viền đỏ), râu đen bó hàm. Trong tuồng "Trảm Trịnh Ân", nhân vật Đào Tam Xuân thuộc dạng "đào võ" là một nữ tướng anh hùng đã tập hợp nghĩa binh kéo về kinh đô trả thù cho chồng, hỏi tội nhà vua sa đọa, diệt bọn gian thần, cứu đất nước thoát cảnh lầm than. Ở nhân vật này cách hoá trang khác biệt hơn so với các vai đào khác, khuôn mặt nửa trắng hồng nửa xanh (Đào Tam Xuân xuất thân từ một tộc người trên núi), chính giữa kẻ một đường đỏ phân cách, các nét kẻ mày, mắt, môi không quá xếch cũng không quá ngang.

                          
NSND Phương Thảo trong vai Đào Tam Xuân

 
Mỗi nhân vật trong vở Tuồng đều mang tính cách điển hình và cách hoá trang tuân theo quy ước nhất định, chẳng hạn quan văn trung để mặt thật dồi phấn trắng pha thêm dầu cho láng, lão quan thì kẻ lông mày và râu đều trắng, nịnh thần tô phấn mốc mốc, thô ráp, không cho láng, kẻ nhiều nét lằn đen đỏ để bộ mặt trông gian xảo; những vai kép núi thì vẽ mặt màu xanh lục pha xám hay mặt đen, mắt vẽ xếch ngược bằng những đường hình trăng lưỡi liềm kéo tới màng tang, hai má giặm màu đỏ hay xanh lục; nhân vật thần thánh tiên ông, đạo sĩ để mặt tự nhiên thoa chút phấn trắng sương sương hay màu vàng bạc bạc, lông mày, râu kẻ trắng; anh hề, công tử ve gái giặm nền trắng hồng nhợt, mắt kẻ lem nhem, sống mũi chấm nhiều đốm, thêm nút ruồi đen, râu vẽ cong tít nhìn dí dỏm buồn cười; dạng vai yêu đạo, yêu tinh thì giặm mặt màu lục, có nhiều đường rằn ri sặc sỡ, miệng vẽ rộng toác hoác đến hai bên mép tai bằng màu đen và đỏ, vẽ nanh màu trắng dài và cong nhìn vào trông xấu xí, khiếp sợ. Một số vai tượng trưng cho các dạng nhân vật này như vai Tào Tháo nhân vật sống thời Tam Quốc, gian tà xảo quyệt nhưng có tài, người diễn viên thủ vai đánh mặt mốc, chân mày kẻ nhỏ rí thể hiện sự phản trắc gian nịnh, trên mặt vẽ nhiều đường đen cong quẹo chỉ tính bạo ngược và mưu trá. Vai Châu Thương dạng kép núi ( tuồng Cổ Thành) là bộ hạ của Quan Công tính tình lỗ mãng, mặt giặm màu đen hay xanh lục, viền mi và hai cánh mũi màu đỏ, mắt kẻ đen, chân mày và những họa tiết màu trắng, râu đen bó hàm.


Nghệ sĩ Ngọc Hân trong vai Châu Thương
 
Hình ảnh vai yêu đạo, yêu tinh xuất hiện trên sân khấu lần đầu dễ khiến cho nhiều khán giả khiếp sợ như vai Lộc Lực (tuồng Chung Vô Diệm) là một đạo sĩ tu luyện pháp thuật lâu năm, hình hài kì dị, đánh nền trắng, vẽ nhiều đường đen rằn ri trên mặt, tròng đỏ quanh mắt, trên trán vẽ chữ Nhơn, chấm nhiều đốm đỏ từ cánh mũi dài đến mang tai, nanh trắng dài.

                                     
 NSƯT Đức Khanh trong vai Lộc Lực

Cũng trong tuồng này vai Chung Vô Diệm là một nàng tiên trên thiên đình do kiếp nạn nên phải đội lốt Dạ Xoa mặt mày xấu xí “trán lân miệng cọp” sau này được hoàn nguyên trở nên xinh đẹp, cách hoá trang rất cầu kì, đánh nền xanh lục, vẽ viền đen rộng bao quanh hai mắt, bên trong giặm màu trắng vẽ những họa tiết đen lên hai phía trán tạo thành cặp sừng lân, chính giữa trán vẽ chữ Vương, chấm những đốm đỏ từ mũi đến sát mép tai, miệng vẽ rộng dài ra hai mép, nanh trắng dài sắc nhọn.


Nhân vật Chung Vô Diệm
 
Trong nghệ thuật Tuồng, các dạng vai mang hình hài các loài vật cũng được thể hiện rõ qua nét vẽ như Tôn Ngộ Không, Hầu Ân vẽ mặt khỉ, Lý Nguyên Bá hay Tiết Quỳ thì vẽ mặt chim, nhân vật Cáp Tô Văn ( tuồng Đường Chinh Đông) hiện thân là con rồng xanh nên họa tiết kẻ trên mặt có những nét giống con rồng, hoặc vai Yêu Cá (tuồng Lý Phụng Đình) là cá hoá rồng nên họa tiết vẽ vừa có sừng vừa có mang để tượng trưng.
Sự phong phú đa dạng trong hoá trang nhân vật của nghệ thuật Tuồng tạo nên một sắc màu sinh động, lung linh trên sân khấu biểu diễn và đây cũng là nét độc đáo riêng biệt so với các loại hình nghệ thuật khác. Cùng với dòng chảy của thời gian, nghệ thuật hoá trang tuồng được các bậc tiền nhân sáng tạo, bảo tồn, lưu giữ tạo nên những giá trị tinh tuý. Đây cũng chính là nguồn tư liệu vô cùng quý giá đối với thế hệ nghệ sĩ trẻ hôm nay. Từ đó định hướng cho họ cần phải làm gì? Làm như thế nào? để loại hình nghệ thuật Tuồng trong tương lai bay cao, bay xa hơn nữa.                                          

Tác giả bài viết: Bài: Hoàng Dũng; Ảnh: Tư liệu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây