Đặc trưng của nghệ thuật Tuồng là tính ước lệ, tượng trưng, cách điệu cao, phương thức hiện thực tả ý, tả thần. Do đó người diễn viên thường sử dụng các đạo cụ nhằm gợi trí tượng tượng cho người xem về hành động, hình ảnh của nhân vật. Một trong những đạo cụ độc đáo, tiêu biểu thường xuyên sử dụng trong nghệ thuật Tuồng đó là chiếc “roi ngựa” tượng trưng cho con ngựa khi biểu diễn, là ví dụ điển hình cho thủ pháp lấy chi tiết để thay cho toàn thể. Chỉ một chiếc roi ngựa trên tay kết hợp với các động tác phù hợp của người diễn viên, khán giả có thể hình dung ra nhân vật đang lên ngựa, cưỡi ngựa thong dong, phi ngựa hay cảm nhận được ngựa đang vui, buồn, chiến thắng, bại trận.
Roi ngựa được làm bằng mây, có chiều dài khoảng 60 cm, được quấn bằng các sợi tua ni lông với một hoặc nhiều màu sắc. Phần đầu roi ngựa có một vòng tròn nhỏ để diễn viên móc vào ngón tay út khi biểu diễn.

Hình ảnh chiếc roi ngựa trong nghệ thuật Tuồng
Trên sân khấu Tuồng có rất nhiều cảnh sử dụng roi ngựa vô cùng hấp dẫn, độc đáo. Bởi nó luôn xuất hiện trong những cảnh ra trận đánh nhau giữa hai nhân vật chính - tà hoặc tả cảnh đi đường, dạo chơi của các nhân vật. Hình ảnh ấy đã được tiền nhân khái quát bằng hai câu đối:
“Đường dài muôn dặm, đi ba bước
Ngựa chạy hai chân quất một roi”

Diễn viên sử dụng roi ngựa trên sân khấu trong trích đoạn tuồng
“Mạnh Lương bắt ngựa”
“Ngựa chạy hai chân” là nói đến hình ảnh người diễn viên tay cầm roi ngựa, vừa tượng trưng cho con ngựa vừa tượng trưng cho đuôi ngựa.
Khi biểu diễn, người diễn viên thực hiện động tác đưa roi ngựa lên cao, quay tròn cùng với động tác chân đi gập ghềnh vó ngựa một vòng trên sân khấu thì khán giả hiểu là nhân vật đang phi ngựa trên đoạn đường dài đầy gian nan, vất vả hoặc khi roi ngựa được đưa lên cao, rung nhẹ kết hợp với bước đi khoan thai thể hiện sự ung dung, thư thái của người cưỡi ngựa dạo cảnh. Còn nếu trên đường đi ngựa của diễn viên, ánh sáng có sự thay đổi một lần sáng một lần tối là tượng trưng cho cảnh nhân vật ấy đã đi liên tục một ngày một đêm….
Những nhân vật chính khi lên sân khấu thường sử dụng roi ngựa như: Tiết Cương (tuồng Hộ sanh đàn), Lữ Bố (tuồng Phụng Nghi Đình), Quan Công (tuồng Cổ Thành), Đào Tam Xuân (tuồng Tam hạ Nam Đường)…. với các động tác cơ bản như: lên ngựa, phi ngựa, ngã ngựa, ngựa thắng trận, ngựa bại trận… và thường được kết hợp với các loại binh khí thông dụng trong Tuồng như: kiếm, thương (giáo), cung, kim giản…
Đối với đạo cụ thương, khi kết hợp với roi ngựa có các kiểu: cầm thương bắt ngựa, cầm thương lên ngựa và khấu đánh. Trong đó, động tác khấu đánh giữa một với một hoặc nhiều người với nhau là trường hợp khó bởi hành động này đòi hỏi sự nhuần nhuyễn, khéo léo và tinh tế của từng diễn viên nếu không thì khi đánh roi ngựa dễ bị cuốn vào thương.
Diễn viên (ở giữa) kết hợp sử dụng roi ngựa và Kim giản trên sân khấu Tuồng
Khi sử dụng cung, người diễn viên kết hợp dùng roi ngựa với các tư thế như: khán ngựa, bắt ngựa, gò ngựa, lên ngựa, phi ngựa…. Khi phi ngựa, tay trái bồng cung, tay phải giơ cao roi ngựa phối hợp hai chân phi. Tùy vào tuyến kịch hoặc bối cảnh mà người diễn viên có thể phi ngựa một hoặc nhiều vòng trên sân khấu.
Kiếm kết hợp với roi ngựa cũng có những động tác tương tự như cung: bồng kiếm dắt ngựa và gò ngựa, bồng kiếm lên ngựa, phi ngựa… Nhưng tùy vào tính cách nhân vật, yêu cầu của đạo diễn hay dựa vào tuồng tích mà người diễn viên có thể sử dụng song kiếm hoặc độc kiếm cùng với roi ngựa. Nếu chỉ sử dụng độc kiếm kết hợp với roi ngựa thì dễ dàng hơn là kết hợp giữa song kiếm và roi ngựa.
Khác với hình ảnh ngựa thật ngoài đời, những “con ngựa Tuồng” tức là cái roi ngựa lại có thể “sống” trên sân khấu tới 15 hoặc 20 phút mà vẫn cuốn hút người xem nhờ tài nghệ biểu diễn của người diễn viên. Ví như lớp “Mạnh Lương bắt ngựa” diễn ra từ lúc Mạnh Lương đến gặp bác Vương mượn ngựa nhưng bị từ chối đến lúc anh lẻn vào chuồng bắt trộm ngựa phi thẳng trong đêm tối, rồi bác Vương lại giục ngựa đuổi theo quyết giành ngựa lại…Cuộc rượt đuổi bằng hai con ngựa Thiên Lý Mã và Vạn Lý Vân kéo dài mà vẫn hấp dẫn khán giả bởi tài nghệ biểu diễn “đua ngựa tuồng” của hai diễn viên vào vai.
Hay trong tuồng “Lưu Kim Đính giải giá Thành Thọ Châu”. Lưu Kim Đính sử dụng lưỡng đầu thương và con ngựa chiến đấu liên tục giữa vòng vây quân thù để phá tứ môn cứu chồng là Cao Quân Bảo. Khán giả không chỉ cảm phục tài năng và ý chí của nữ tướng Lưu Kim Đính mà còn thương cả con ngựa dũng mảnh đã tham chiến đến kiệt sức vì chủ tướng và cũng biết chia sẻ với nàng bằng cách sụm bộ vó lại.
Ngược lại, con ngựa của Hồ Nguyện Cô lại từ bỏ người chủ của mình khi Nguyệt Cô trở về kiếp cáo bởi nàng không biết giữ viên ngọc quý - báu vật sau hàng ngàn năm tu luyện mới thành người. Với lớp tuồng này, người diễn viên diễn tả cảnh dằng co giữa người và ngựa thật độc đáo mặc dù chỉ có một chiếc roi ngựa cách điệu và đôi chân khéo léo của người nghệ sĩ.
Còn đối với vở tuồng cổ “Sơn Hậu” cũng xuất hiện hai lớp diễn tả con ngựa rất thú vị. Đó là lớp Kim Lân một mình một ngựa mang Hoàng tử sơ sinh vượt rừng sâu núi thẳm trong đêm tối và lớp Phàn Định Công đề cờ, nhân vật ba lần ngã ngựa học máu chết bởi sức cản của cuồng phong, báo hiệu điềm dữ khó có thể vượt qua.
Quả thật, roi ngựa là một đạo cụ vô cùng độc đáo và sinh động trong Tuồng. Người diễn viên sử dụng roi ngựa trên sân khấu là cả một nghệ thuật. Với chiếc roi ngựa trên tay diễn viên kết hợp với những động tác điêu luyện đã góp phần biểu đạt nhiều hành động và có ý nghĩa khác nhau, giúp người xem dễ hình dung các tình huống, bối cảnh kịch một cách thú vị và dễ dàng hơn. Dù ở vị thế nào, con ngựa cũng tỏ ra rất thông minh, nhanh nhạy và dũng mãnh. Dùng hình ảnh roi ngựa tượng trưng cho con ngựa đã trở thành hình tượng đẹp trong Tuồng từ thuở xưa và được duy trì cho đến ngày nay. Đó là một nét văn hóa đặc sắc của nghệ thuật sân khấu truyền thống dân tộc ta.