Đàn Nhị (còn gọi là đàn Cò vì cần đàn dài, đầu đàn cao như đầu con cò) là một loại nhạc cụ xuất hiện trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam từ rất lâu đời, và nó đã trở nên thân thiết, gần gũi, quen thuộc đối với đời sống của nhân dân. Nói đến đàn Nhị thì trong tâm thức mỗi người con đất Việt lại gợi nhớ về những điều cổ xưa, về những cung bậc cảm xúc của một dân tộc đã trải qua bao biến động của lịch sử với những đau thương, mất mát nhưng vẫn bừng lên khí phách anh hùng. Phải chăng chính vì điều đó mà nhiều người nghiên cứu về âm nhạc dân tộc đều cho rằng cây đàn Nhị không những diễn tả được mọi tình huống bi ai, réo rắt, nỉ non, buồn thảm, mà còn diễn đạt được chất khỏe, xung đột, mạnh mẽ, oai hùng. Một điều rất dễ nhận thấy là đàn Nhị được sử dụng rất rộng rãi, phổ biến trong dàn nhạc của nhiều loại hình nghệ thuật dân tộc như: Chèo, Quan họ, Ví Dặm, Nhã Nhạc, Đờn ca tài tử…. Trong dàn nhạc Tuồng, cùng với trống và kèn, thì đàn Nhị đóng vai trò rất quan trọng, bộ ba nhạc cụ “ Trống – Kèn - Nhị” từ lâu đã trở thành quy ước riêng của dàn nhạc Tuồng, không thể thiếu một trong ba. Hiện nay thường dùng bộ nhị kéo vĩ đủ 3 chiếc: Nhị 1 (có âm vực cao), Nhị 2 hay líu 2 (có âm vực trung), Nhị hồ (Hồ tiểu) hay đàn Gáo (có âm vực trầm). Nếu như trống, kèn là nhạc cụ chủ đạo tạo nên không khí nhộn nhịp để mở màn vở diễn, chuyển cảnh, chuyển lớp thì đàn Nhị có nhiệm vụ dạo, rao, thòng, bao, dẫn dắt "mở khẩu" cho diễn viên hát. Đàn Nhị đệm cho các làn điệu (Nói Lối, Xướng, Ngâm, hát Khách, hát Nam, Xuân Nữ…), các bài bản (điệu hò, vè, lý…) trong Tuồng, là người bạn gần gũi, thân thiết giúp người nghệ sĩ lấy giọng đắc lực nhất, đôi lúc còn đỡ hơi cho họ. Khi diễn viên nói lối, thì nhạc công đàn Nhị chỉ rao, dạo nhạc điệu, còn khi hát làn điệu thì chơi theo cách tòng "phức điệu" trong khuôn khổ giai điệu chính (nghĩa là diễn viên hát Khách thì Nhị kéo bài Khách, hát Xuân Nữ kéo bài Xuân Nữ, hát Nam Ai kéo bài Nam Ai...).

Đàn Nhị đệm cho Nói lối trong Tuồng
Trong hát Tuồng nếu không có đàn Nhị coi như mất đi một nửa hiệu quả. Các loại Nhị hồ có quãng rộng, không có phím, nhưng có một "cái khuyết" buộc giây đàn và cần đàn để xê dịch lên xuống, khi diễn viên hát chênh bậc, lạc giọng, dùng cách xê dịch cái khuyết để chuyển giọng nam hay nữ, mà không cần vặn trục lên giây. Đây là ưu điểm của đàn Nhị, vì vậy mà nó luôn giữ giai điệu chính trong các làn điệu, bài bản. Nghiên cứu tìm hiểu về cấu tạo của đàn Nhị gợi mở cho chúng ta nhiều điều lý thú và bổ ích trong cách chế tác nhạc khí dân tộc và cũng từ đó có vốn kiến thức để so sánh với nhiều nhạc cụ khác, nhiều quốc gia khác trên thế giới. Các bậc tiền nhân có sự sáng tạo thông minh thật đáng tự hào, từ những chất liệu trong thiên nhiên họ đã tạo nên một loại nhạc cụ độc đáo và rất gần gũi. Đàn Nhị có 4 bộ phận chính đó là: ống đàn, cần đàn, vĩ đàn, dây đàn.

Đàn Nhị
1. Ống đàn: Còn gọi là bát nhị, làm bằng gỗ trắc, gỗ mít, bên trong rỗng, nhìn giống hoa muống. Bịt da một đầu, đầu loe để trống, bịt da ếch, da rắn, da cóc, da trăn, nhưng da kỳ đà thường dùng nhất. Ngựa đàn đặt ở giữa mặt da để gác hai dây đàn lên, ngựa đàn làm bằng tre, gỗ cứng, sừng trâu hoặc bằng xương động vật, ngựa đàn có thể xê dịch chỉnh dây cao, hoặc thấp .
2. Cần đàn: Làm bằng các loại gỗ cứng, đầu đàn giống như đầu con cò, đục 2 lỗ xỏ trục đàn qua để mắc dây đàn, trục đàn có thể quay tròn để lên, xuống dây đàn, vừa lên dây vừa nhấn chặt vào, để dây khỏi tuột. Một đầu cuối cắm xuyên qua ống đàn, đuôi ló ra để buộc dây đàn. Phía trên khoảng 1/3 cần đàn, buộc một cái khuyết, xê dịch lên, xuống để chỉnh dây đàn cao hay thấp.
3. Vĩ đàn: Làm bằng cành tre, trúc uốn cong hình cánh cung, dùi hai lỗ, xỏ đuôi ngựa qua, gút 2 đầu, căng đuôi ngựa thật thẳng, ta có chiếc vĩ kéo, đuôi ngựa xỏ nằm giữa 2 dây đàn đế đánh được hai dây, mà vĩ không nhắc ra được. Muốn vĩ có độ nhám thì tiếng mới kêu tót, người ta dùng nhựa thông xoa vào và cục nhựa thông được gắn ở ống đàn, chỗ vĩ đàn hay qua lại khi kéo thường cọ vào cục nhựa thông ấy.
4. Dây đàn: Đàn có 2 dây, ngày xưa, các cụ dùng sợi tơ tằm xe săng, dây tơ có tiếng ấm, mềm mại, gần với tiếng người, nhưng hay bị giãn, bị mòn hay đứt. Có nơi dùng dây cước câu bằng ni lông, tiếng kêu không ấm và hay bằng dầy tơ, bị đàn hồi và tiếng kêu không chuẩn xác. Hiện nay dùng dây kim loại (dây đàn Guitar hay dây phanh xe đạp), tiếng đàn kém phần ngọt ngào, nhưng đảm bảo độ bền chắc, ít bị đàn hồi, tiếng đàn sắc, khỏe, rất chuẩn xác.
Về âm vực thì khoảng âm thường dùng từ nốt Sol (G3) đến nốt Rê (D5): tiếng Nhị chuẩn, đẹp, rõ ràng. Khoảng âm cao hơn một chút lên tới nốt Sol (G5), tiếng thanh, trong sáng. Khoảng âm cao quá, tiếng đàn rít, sắc đanh, gay gắt, đánh nhanh, không chậm và kéo dài. Để tạo âm điệu phong phú phục vụ diễn tấu các nhạc công lên dây đàn quãng 5 Sol - Rê, Rê - La hay Fa - Đô.

So với các nhạc cụ dân tộc trong dàn nhạc Tuồng thì đàn Nhị có quãng âm rộng, có thể diễn tấu được nhiều cung bậc, màu sắc khác nhau. Chính vì vậy mà các nhạc sĩ viết cho Nhị trong các bản phối khí thường đạt được hiệu quả cao cho tác phẩm.
Đi cùng năm tháng, cây đàn Nhị đã gắn bó với biết bao thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân, những nhạc sĩ, nhạc công nổi tiếng để lại một kho tàng các tác phẩm sân khấu đỉnh cao, mang giá trị văn hóa đặc sắc. Không chỉ riêng trong nghệ thuật Tuồng mà cùng với sự đa dạng về các loại hình nghệ thuật khác nhau, các vùng miền khác nhau mà cây đàn Nhị được chế tác và cải biến cho phù hợp nhưng vẫn dựa trên cái mộc mạc vốn có của nó. Xin mượn những vần thơ trong bài thơ “Nhị Hồ” của nhà thơ Xuân Diệu thay cho lời kết:
“Tiếng đàn thầm dịu dẫn tôi đi
Qua những sân cung rộng hững hờ.
Cây cỏ bình yên; khuya tĩnh mịch
Bỗng đâu lên khúc Lạc âm thiều ...
Nhị hồ để bốc niềm cô tịch,
Không khóc, nhưng mà buồn hiu hiu ...”